HOTLINE: 024 38224030

Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế

I. PHONG TRÀO CHỮ THẬP ĐỎ, TRĂNG LƯỠI LIỀM ĐỎ QUỐC TẾ

Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đó quốc tế được cấu thành bởi Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế, Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và các Hội Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ các quốc gia; là tổ chức lớn nhất trên thế giới hoạt động trong lĩnh vực nhân đạo. Mục tiêu cơ bản nhất của Phong trào là góp phần phòng ngừa, giảm bớt đau thương và bảo vệ nhân phẩm con người. Cơ chế điều phối của Phong trào là cuộc họp Đại hội đồng Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và Hội nghị Hội đồng các đại diện được tổ chức 2 năm một lần và Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ được tổ chức 4 năm một lần cùng với sự tham gia của chính phủ hoặc nhà nước các quốc gia tham gia các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 và các Nghị định thư bổ sung 1977.  

Sau đây là những thông tin cơ bản về các bộ phận cấu thành của Phong trào; nguyên tắc và lề lối hoạt động của Phong trào:

1. Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế

Uỷ ban Chữ thập đỏ Quốc tế (tiền thân là "Uỷ ban quốc tế cứu trợ người bị thương") là một trong 3 bộ phận cấu thành của Phong trào; được thành lập năm 1863 theo ý tưởng của Hen-ry Du-năng[1]. Năm 1864, theo sáng kiến của Uỷ ban, ngày 22/8/1864, Chính phủ Thuỵ Sỹ chính thức triệu tập hội nghị quốc tế về vấn đề nhân đạo với sự tham gia của đại diện 16 nước. Tại hội nghị này, 12 trong số 16 nước đã ký kết Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện hoàn cảnh cho binh sỹ bị thương trên chiến trường. Năm 1875, "Uỷ ban quốc tế cứu trợ người bị thương" được đổi tên là Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế.

Nhiệm vụ của Uỷ ban là giúp đỡ nạn nhân chiến tranh, thăm hỏi tù binh (bao gồm cả việc tìm hiểu sự đối xử với thương binh, tù binh và những người bị giam giữ liên quan đến xung đột, có quyền đề xuất các biện pháp giải quyết), tìm kiếm người mất tích. Trong thời bình, nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban là phổ biến Luật Nhân đạo quốc tế, đồng thời là cơ quan theo dõi thực hiện các nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Uỷ ban cũng có quyền điều phối hoạt động cứu trợ của các Hội quốc gia trong việc giúp đỡ nạn nhân trong các cuộc chiến tranh, xung đột quân sự.

Uỷ ban có các bộ phận chuyên trách việc cứu trợ và chăm sóc y tế (phẫu thuật, phục hồi chức năng, chân tay giả, rà phá bom, mìn, tẩy uế môi trường, cung cấp nước sạch...). Uỷ ban tiếp tục tổ chức Trung tâm tìm kiếm quốc tế[2]; đã giúp đỡ rất nhiều cho nhu cầu tình cảm của những gia đình có người thân bị bắt hoặc mất tích. Ngày nay, công việc này có sự phối hợp của các Trung tâm tìm kiếm và Văn phòng thông tin quốc gia. Tại Trung tâm ở Giơ-ne-vơ hiện có 7 triệu phiếu cá nhân đã được lập trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, có 100 triệu thư từ đã được chuyển giao tại Trung tâm, mỗi năm 2 triệu thư được chuyển giữa các gia đình bị ly tán. Hàng năm, Uỷ ban giúp đoàn tụ khoảng 10.000 nạn nhân các cuộc xung đột.

Hiện nay, Uỷ ban có trụ sở chính tại Giơ-ne-vơ với hơn 2.000 nhân viên và hoạt động ở trên 80 quốc gia với trên 12.000 nhân viên.

2. Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi đỏ quốc tế (gọi tắt là Hiệp Hội)

Sau cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, khắp Châu Âu hầu như rơi vào rối loạn xã hội. Với sự tàn phá của chiến tranh, sự thay đổi các đường biên giới, sự di cư của hàng triệu người... khắp nơi đầy rẫy người vô gia cư, đói khát và đau ốm. Lúc đó chưa phải nước nào cũng có Bộ Y tế, do vậy, một phần lớn các hoạt động cứu trợ là do Hội Chữ thập đỏ các quốc gia đảm nhiệm. Việc tổ chức cứu trợ như thế rất cần có sự phối hợp giữa các hội quốc gia.

Năm 1919, Hen-ry Da-vit-son, một trong những người lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ Mỹ, đề xuất thành lập một tổ chức quốc tế bao gồm Hội Chữ thập đỏ các quốc gia kiểu như Hội Quốc liên với mục đích ‘...tổ chức một cuộc Thập tự chinh thường xuyên trên toàn Thế giới để tăng cường sức khỏe, dự phòng bệnh tật và giảm bớt khổ đau". Sáng kiến của Da-vit-son lập tức được hưởng ứng rộng rãi và năm 1919, “Liên đoàn các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế” ra đời, với trụ sở đặt tại Paris. Năm 1939, trụ sở của Liên đoàn được chuyển sang Giơ-ne-vơ. Năm 1991, Liên đoàn đổi tên là “Hiệp Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế”.

Hiệp hội là một tổ chức quốc tế bao gồm các Hội quốc gia thành viên; Ban lãnh đạo Hiệp hội do các Hội quốc gia lựa chọn và bầu ra, là cơ quan điều phối các hoạt động trợ giúp nhân đạo, có tư cách đại diện các Hội quốc gia tại các hội nghị hay các cơ cấu quốc tế.

Nhiệm vụ của Hiệp hội là thúc đẩy thành lập và phát triển các Hội quốc gia; tiến hành các hoạt động phòng ngừa và ứng phó với thảm hoạ, thiên tai; tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ dựa vào cộng đồng (bao gồm cả hoạt động hiến máu, sơ cấp cứu ban đầu, phòng chống HIV/AIDS, cúm gia cầm, đại dịch cúm ở người...); tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng và công tác xã hội (bao gồm cả các hoạt động giáo dục vệ sinh, cung cấp nươc sạch, giúp đỡ trẻ em mồ côi, người khuyết tật nghèo và người già cô đơn không nơi nương tựa...); phát triển lực lượng thanh thiếu niên, tình nguyện viên chữ thập đỏ. Hiệp hội cũng phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế trong các hoạt động cứu trợ nhân đạo ở các khu vực có chiến tranh, xung đột quân sự và phổ biến Luật Nhân đạo quốc tế cùng các nguyên tắc cơ bản của Phong trào; phối hợp giải quyết vấn đề di cư, tỵ nạn trong chiến tranh, xung đột vũ trang.

Từ 1994, Hiệp hội được hưởng quy chế quan sát viên thường trực tại Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Hiệp hội hợp tác chặt chẽ với Chương trình Lương thực thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế thế giới, Cao Uỷ Liên hợp quốc về người tỵ nạn... Hiệp hội cũng có mối quan hệ thường xuyên với các tổ chức phi chính phủ như: Qũy cứu trợ trẻ em, OXFAM, CARE...

Hiệp hội hiện có 186 thành viên, có trụ sở chính tại Giơ-ne-vơ, có 4 đại diện khu vực tại châu Phi, châu Mỹ, châu Á-Thái bình dương và châu Âu; một đại diện thường trú ở khu vực Trung cận Đông và Bắc Phi.

3. Hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ các quốc gia (gọi tắt là các Hội quốc gia)

Tính đến nay, tại hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới công nhận các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 đều thành lập Hội Chữ thập đỏ hoặc Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia; 186 Hội quốc gia được công nhận là thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

Nhiệm vụ các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia hiện đã thay đổi nhiều so với hơn một thế kỷ trước. Ban đầu, các Hội quốc gia được thành lập chủ yếu để cứu trợ nạn nhân, trước hết là binh sỹ trong chiến tranh. Sau chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, các Hội quốc gia đã tham gia giúp đỡ những người mất nhà cửa, bị thương tật, có gia đình bị ly tán, những người di cư do thay đổi biên giới quốc gia. Nhiều Hội quốc gia đã tổ chức các bệnh viện, các đoàn xe cứu thương, nhà cửa cho người cơ nhỡ, vận động hiến máu, đào tạo người tình nguyện... Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, ở các nước kinh tế phát triển, nhiều Hội quốc gia đã hoạt động chống các biểu hiện tiêu cực của khủng hoảng xã hội như thất nghiệp, ma túy, tệ nạn xã hội... Tại các nước kinh tế đang phát triển hoặc mới giành được độc lập thì chăm sóc y tế thường là hoạt động chủ yếu. Bên cạnh đó, ở những nước này, các Hội quốc gia còn tham gia chống suy dinh dưỡng, vận động tiêm chủng, phòng chống thiên tai, cứu đói; hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, xung đột vũ trang, sắc tộc, thiên tai, thảm hoạ và các dịch bệnh khác.

Muốn trở thành thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, các Hội quốc gia cần hội tụ đủ 10 điều kiện sau đây:

  1. Được thành lập tại một nước tham gia các Công ước Giơnevơ năm 1949;
  2. Trong nước đó chỉ có một Hội quốc gia với một ban lãnh đạo;
  3. Được Chính phủ nước đó công nhận là một tổ chức cứu trợ tự nguyện, hỗ trợ cho chính quyền trong lĩnh vực nhân đạo;
  4. Có điều lệ hoạt động phù hợp với 7 nguyên tắc cơ bản của Phong trào;
  5. Sử dụng tên gọi và biểu tượng phù hợp với 7 nguyên tắc cơ bản;
  6. Có mạng lưới tổ chức đủ đảm bảo các nhiệm vụ quy định, có chuẩn bị trong thời bình để sẵn sàng đảm bảo nhiệm vụ trong thời chiến;
  7. Hoạt động trong phạm vi cả nước;
  8. Kết nạp hội viên không phân biệt dân tộc, giới tính, tầng lớp xã hội, tín ngưỡng hoặc quan điểm chính trị;
  9. Thực hiện Điều lệ của Phong trào, xây dựng tình hữu nghị và hợp tác giữa các thành viên;
  10. Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Phong trào và hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của Luật Nhân đạo quốc tế.

4. Tư cách thành viên chính thức của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được thành lập ngày 23 tháng 11 năm 1946, không lâu trước khi xảy ra cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ, Hội đã tích cực tham gia vào công tác cứu chữa, chăm sóc thương binh. Dù chưa phải là một thành viên chính thức của Phong trào, Hội cũng đã tuân thủ các Công ước Giơ-ne-vơ về tù binh và có đại diện chính thức tại các cuộc trao trả tù binh trong các Chiến dịch biên giới năm 1950 và Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Ngày 5/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhà nước ta ký Công hàm gửi Chính phủ Thụy sỹ, đồng ý tham gia bốn Công ước Giơnevơ năm 1949. Với sự kiện đó, ngày 01 tháng 11 năm 1957, Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ và ngày 04 tháng 11 năm 1957, Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế chính thức công nhận Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là thành viên tại Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ tại Ấn Độ. Việt Nam tham gia các Công ước Giơ-ne-vơ với 7 điều khoản bảo lưu trong số 429 điều thuộc 4 Công ước (đó là điều khoản 10 trong Công ước I; điều khoản 10 trong Công ước II; các điều khoản 10, 12 và 85 trong Công ước III và điều khoản 11, 15 trong Công ước IV). Tinh thần chung của các điều khoản bảo lưu là những quyết định của các nước cầm giữ thương binh, bệnh binh hoặc tù binh về số phận của họ cần được nước có những thương binh, bệnh binh và tù binh đó chấp nhận thì mới được coi là hợp pháp.

Đối với các Nghị định thư bổ sung, ngày 19/10/1981, thay mặt Nhà nước ta, Chủ tịch hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã ký công hàm chính thức tham gia Nghị định thư số I

II. BIỂU TƯỢNG CỦA PHONG TRÀO

 Để có một dấu hiệu thể hiện tính trung lập của nhân viên và phương tiện tìm kiếm chăm sóc thương binh, tránh bị các bên tham chiến sát hại, tại Hội nghị quốc tế của Uỷ ban quốc tế cứu trợ người bị thương (tháng 10 năm 1863 tại Thuỵ Sỹ), đại biểu 16 nước tham dự Hội nghị đã quyết định lấy biểu tượng hình Chữ thập màu đỏ trên nền trắng (hình cờ Thụy Sỹ ngược màu) làm biểu tượng chung của Uỷ ban. Đến nay, chữ thập màu đỏ được quy định bao gồm 5 hình vuông bằng nhau, trong đó 4 hình vuông ở 4 phía và một hình vuông ở giữa.

Ngày nay, Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế chính thức công nhận ba Biểu tượng có giá trị như nhau, đó là: Chữ thập đỏ trên nền trắng; Trăng lưỡi liềm đỏ trên nền trắng và Pha lê đỏ trên nền trắng (trong đó Trăng lưỡi liềm đỏ là Biểu tượng của các Hội quốc gia theo Đạo Hồi; Pha lê đỏ là Biểu tượng của Hội quốc gia Ixi-ra-en). Biểu tượng có tác dụng bảo vệ và nhận diện:

1. Mục đích Bảo vệ

Đây là mục đích cơ bản của Biểu tượng, khi có xung đột, các bên tham chiến không được tấn công, không được xâm phạm những nơi có Biểu tượng (Biểu tượng thường phải có kích thước lớn).

Biểu tượng dùng để bảo vệ cho các đơn vị quân y; các đơn vị y tế của Hội  quốc gia (bệnh viện, trạm cấp cứu) và phương tiện giao thông vận tải (đường bộ, đường thủy, đường không) được giao nhiệm vụ cứu thương; các cơ sở y tế dân sự (bệnh viện, trạm cấp cứu được Chính phủ và các cấp chính quyền giao nhiệm vụ cứu chữa thương binh trong chiến tranh và hoạt động nhân đạo không thu tiền); các tổ chức cứu trợ tình nguyện khác được Chính phủ cho phép hoạt động phục vụ cứu thương, họ được dùng Biểu tượng cho nhân viên hoặc thiết bị khi phục vụ trong các đơn vị y tế của lực lượng vũ trang.

2. Mục đích Nhận diện

Với mục đích nhận diện, Biểu tượng được sử dụng chủ yếu trong thời bình, để biết đó là một cá nhân hoặc tài sản có liên quan đến Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (Biểu tượng thường có kích thước nhỏ).

Với mục đích này, Biểu tượng dùng cho hội viên, nhân viên của Hội quốc gia khi làm nhiệm vụ và được đeo cùng với tên đầy đủ hoặc chữ viết tắt tên Hội quốc gia; Đội viên thanh thiếu niên Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ được sử dụng Biểu tượng nhưng phải kèm theo các chữ "Thanh thiếu niên Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ"; những người đã tham gia các khóa học hoặc các kỳ thi của Hội quốc gia có thể đeo Biểu tượng với kích thước nhỏ kèm theo tên hoặc chữ viết tắt Hội quốc gia; những nhà cửa, trụ sở, tài sản được Hội quốc gia sử dụng được đánh dấu bằng Biểu tượng và kèm theo tên Hội quốc gia; các bệnh viện, trạm cấp cứu, xe cứu thương và các phương tiện vận chuyển khác do Hội quốc gia sử dụng được treo Biểu tượng cùng với tên của Hội.

 Luật Nhân đạo quốc tế quy định về hình thức, phạm vi sử dụng Biểu tượng. Các chính phủ tham gia Luật Nhân đạo quốc tế đều phải thực hiện theo quy định này.

III. BẢY NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHONG TRÀO

Hội nghị Chữ thập đỏ và Trăng Lưỡi liềm đỏ quốc tế lần thứ XX được tổ chức tại Viên năm 1965 với sự tham gia của đại diện các thành viên trong Phong trào và đại diện của các Chính phủ tham gia các Công ước Giơnevơ năm 1949 đã chính thức thông qua bảy nguyên tắc cơ bản sau đây:

1. Nhân đạo

Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ với lòng mong muốn được giúp đỡ không phân biệt những người bị thương trên chiến trường, sẽ nỗ lực với khả năng quốc gia và quốc tế của mình ngăn ngừa và giảm bớt đau thương nhân loại bất  cứ nơi nào có thể. Mục đích của Phong trào là để bảo vệ tính mạng và sức khoẻ cho con người và đảm bảo tôn trọng nhân phẩm. Phong trào giúp cho sự hiểu biết lẫn nhau, sự hợp tác, hữu nghị, hoà bình bền vững giữa các dân tộc.

2. Vô tư

Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế không phân biệt dân tộc, giống nòi, tôn giáo, tầng lớp và quan điểm chính trị. Phong trào nỗ lực để giảm nhẹ nỗi đau của mọi cá nhân và giành ưu tiên cho những người thiệt thòi nhất.

3. Trung lập

Để giữ niềm tin của nhân dân, Phong trào không đứng về phe nào trong các cuộc xung đột hoặc không tham dự vào các vấn đề mâu thuẫn về chính trị, chủng tộc, tôn giáo hoặc lý tưởng.

4. Độc lập

Phong trào mang tính chất độc lập. Các Hội quốc gia, trong khi trợ giúp cho chính phủ của mình trong các hoạt động nhân đạo và tuân theo luật pháp của nhà nước mình, luôn luôn giữ tính tự chủ để có thể hoạt động phù hợp với những nguyên tắc của Phong trào.

5. Tự nguyện

Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ là tổ chức nhân đạo hoạt động tự nguyện, không vụ lợi.

6. Thống Nhất

Ở mỗi nước, vùng lãnh thổ chỉ có duy nhất một Hội Chữ thập đỏ hoặc Hội Trăng lưỡi liềm đỏ. Hội nhất thiết phải mở rộng đối với tất cả mọi người. Hội phải tiến hành sứ mạng nhân đạo của mình trên phạm vi toàn lãnh thổ.

7. Toàn cầu

Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là tổ chức rộng rãi có  phạm vi trên toàn cầu, trong đó tất cả các Hội quốc gia đều bình đẳng, chia sẻ trách nhiệm và nhiệm vụ trong việc giúp đỡ lẫn nhau.

IV. LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ

Luật Nhân đạo Quốc tế là một phần chủ yếu của Công pháp quốc tế, là tập hợp những quy tắc pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhằm giảm thiểu những đau khổ và thiệt hại cho con người trong chiến tranh; cụ thể là để bảo vệ những người không tham chiến hoặc không còn khả năng tham chiến cũng như để hạn chế việc sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh. Hệ thống văn kiện này đã và đang có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo hộ các nạn nhân trong các cuộc chiến tranh và xung đột có vũ trang xảy ra ở khắp các khu vực trên thế giới từ cuối thế kỷ XIX đến nay.

Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng đối với các cuộc xung đột vũ trang có ý nghĩa như một Hiệp ước quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề nhân đạo trực tiếp nảy sinh từ các cuộc xung đột vũ trang dù có mang tính chất quốc tế hay không. Vì những lý do nhân đạo, các quy tắc của Luật Nhân đạo sẽ hạn chế quyền tự do sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh của các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ người và tài sản bị ảnh hưởng hoặc có thể bị ảnh hưởng do cuộc xung đột.

1. Những quy tắc chủ yếu của Luật Nhân đạo quốc tế

- Những người nằm ngoài và những người bị loại khỏi vòng chiến đấu phải được tôn trọng về sinh mạng, được đảm bảo toàn vẹn về thân thể và tinh thần. Trong mọi trường hợp, các đối tượng trên phải được bảo hộ và đối xử nhân đạo không có bất kỳ sự phân biệt nào.

- Nghiêm cấm việc giết hoặc làm bị thương đối phương khi họ đã quy hàng hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

- Người bị thương hoặc bị ốm phải được thu gom lại và chăm sóc bởi bên đối phương đang cầm giữ họ. Các nhân viên y tế, các trạm và phương tiện vận chuyển và trang thiết bị y tế phải được tôn trọng và bảo vệ. Biểu tượng Chữ thập đỏ/Trăng lưỡi liềm đỏ trên nền trắng là dấu hiệu bảo hộ những người và vật dụng trên đây phải được tôn trọng.

- Tù binh và dân thường bị phía đối phương bắt giữ phải được tôn trọng về sinh mạng, phẩm giá, các quyền tự do và tư tưởng cá nhân, chính trị, tín ngưỡng và tập tục tôn giáo. Cấm sử dụng các hành động bạo lực hoặc trả đũa đối với họ. Họ được bảo đảm quyền liên lạc với gia đình và tiếp nhận sự cứu trợ.

- Mỗi người đều có quyền hưởng các bảo đảm luật pháp chủ yếu. Không ai phải chịu trách nhiệm về những việc mà họ không vi phạm. Không được tra tấn về thể chất và tinh thần, dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo hoặc làm mất nhân phẩm đối với họ.

- Các bên tham chiến và thành viên các lực lượng vũ trang phải tuân thủ việc hạn chế sử dụng các biện pháp và phương tiện chiến tranh gây ra những tác hại không cần thiết hoặc quá đau đớn.

- Các bên tham chiến phải luôn luôn phân biệt rõ dân thường và tài sản của họ. Đại bộ phận nhân dân cũng như mỗi con người đều không thể bị coi là mục tiêu để tấn công. Chỉ được tấn công vào các mục tiêu quân sự.

  1. Nội dung chủ yếu của 4 Công ước và 3 Nghị định thư bổ sung

Luật Nhân đạo Quốc tế, cụ thể là 4 Công ước Giơnevơ và 3 nghị định thư bổ sung là cả một quá trình xây dựng lâu dài. Khởi đầu từ Công ước Giơnevơ lần thứ nhất năm 1864, Luật đã phát triển qua nhiều thời kỳ, mà tất cả thường là sau những biến cố hết sức cần thiết phải có luật để đáp ứng các nhu cầu cao chưa từng có về cứu trợ nhân đạo cho nạn nhân của sự phát triển các loại vũ khí và các kiểu xung đột mới.

 2.1. Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949

Năm 1874, một Hội nghị ngoại giao đã được triệu tập tại Brúc-xen theo sáng kiến của Sa hoàng A-léc-xăng-đơ Đệ nhị. Hội nghị đã thông qua bản Tuyên ngôn quốc tế về các đạo luật và tập quán về chiến tranh. Tuy nhiên văn kiện đó không được phê chuẩn vì một số quốc gia ngần ngại chưa muốn chịu sự ràng buộc của đạo luật. Mặc dầu vậy, dự thảo Brúc-xen đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc pháp điển hóa các đạo luật về chiến tranh.

Năm 1934, Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ lần thứ 15 đã họp tại Tô-ky-ô và thông qua văn kiện "Công ước Quốc tế về những điều kiện và việc bảo hộ thường dân mang quốc tịch của quốc gia đối địch đang sinh sống trên lãnh thổ thuộc/hoặc bị chiếm đóng bởi quốc gia đối địch" do Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế dự thảo. Văn kiện cũng không nhận được sự ủng hộ tích cực, các chính phủ vẫn từ chối việc triệu tập một Hội nghị ngoại giao để quyết định thông qua. Kết quả là, dự thảo Tô-ky-ô đã không được áp dụng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai nên đã không ngăn chặn được hậu quả tàn khốc của chiến tranh mà tất cả chúng ta đều đã biết.

Ngày 18/8/1949, các Công ước Giơ-ne-vơ về giao tranh trên bộ, trên biển, tù binh và thường dân đã chính thức ra đời, gồm:

- Công ước Giơ-ne-vơ I năm 1864 về Cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang chiến đấu.

- Công ước Giơ-ne-vơ II năm 1899 về Cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và những người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển.

- Công ước Giơ-ne-vơ III năm 1929 về Đối xử với tù binh chiến tranh.

          - Công ước Giơ-ne-vơ IV năm 1949 về Bảo vệ thường dân trong thời gian chiến tranh.

 2.2. Các Nghị định thư bổ sung

Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo quốc tế. Tuy nhiên, sau quá trình phi thực dân hóa, các quốc gia mới thành lập thấy khó có thể chấp nhận việc bị ràng buộc bởi những đạo luật mà bản thân họ không được tham gia chuẩn bị. Hơn thế nữa, những quy tắc ứng xử khi xảy ra xung đột cũng không tiến triển kể từ Công ước La-hay năm 1907. Tuy nhiên, do việc sửa đổi các Công ước Giơ-ne-vơ có thể tạo nên những thách thức cho một số sự tiến bộ đạt được năm 1949 nên đã dẫn tới quyết định thông qua hai văn kiện mới dưới hình thức Nghị định thư bổ sung cho các Công ước Giơ-ne-vơ nhằm củng cố việc bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang.

Năm 1977, Hai nghị định thư bổ sung cho bốn Công ước Giơ-ne-vơ. Hai Nghị định thư này củng cố việc bảo hộ các nạn nhân của xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế (Nghị định thư 1) và trong xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế (Nghị định thư II). Năm 2005, nghị định thư bổ sung thứ ba đã được Hội nghị quốc tế lần thứ 29 tại Giơnevơ thông qua, đó là Nghị định thư về Bảo vệ Biểu tượng.

3. Áp dụng Luật Nhân đạo quốc tế

Các quốc gia tham gia các Công ước Giơ-ne-vơ có nghĩa vụ pháp lý phổ biến rộng rãi kiến thức về các Công ước và Nghị định thư. Luật Nhân đạo quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp:

3.1. Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế

Khi xảy ra xung đột vũ trang có tính chất quốc tế, bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung I sẽ được áp dụng. Luật Nhân đạo nhằm chủ yếu vào các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người nằm ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, như:

- Binh sĩ bị ốm hoặc bị thương trên chiến trường và các nhân viên y tế phục vụ trong các lực lượng vũ trang.

- Binh sĩ bị ốm, bị thương hoặc bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân và các nhân viên y tế phục vụ trong ác lực lượng hải quân.

- Tù binh chiến tranh.

- Dân thường (người nước ngoài sống trên lãnh thổ các bên tham gia xung đột, kể cả người tỵ nạn; thường dân sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng; thường dân bị bắt giữ hoặc bị cầm tù).

- Các nhân viên y tế, tôn giáo hoặc phòng hộ dân sự.

- Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, như quy định tại điều 1 của Nghị định thư bổ sung I, được liệt vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế.

3.2. Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế

Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế sẽ áp dụng điều 3 chung của bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung II. Luật Nhân đạo nhằm vào các lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu mà không phân biệt chính quy hay không chính quy, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người đứng ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, như:

- Thương binh hoặc bệnh binh.

- Những người bị tước quyền tự do do hậu quả của cuộc xung đột.

- Dân thường; các nhân viên y tế và tôn giáo.

  1. Phổ biến, giáo dục và đào tạo về Luật nhân đạo quốc tế

Các quốc gia thành viên trong thời gian hòa bình cũng như có chiến tranh phải thực hiện các biện pháp giáo dục, đào tạo và phổ biến những quy định và các nguyên tắc của Luật Nhân đạo quốc tế. Hoạt động phổ biến, thông tin về luật nhân đạo quốc tế nhất thiết không phải đợi đến khi có chiến tranh xảy ra mới tiến hành mà ngược lại, hoạt động này cần phải được thực hiện trong thời bình như là một sự chuẩn bị cho thực hiện các quy định và nguyên tắc luật nhân đạo quốc tế được tôn trọng trong thời gian xảy ra các cuộc xung đột vũ trang.

V. CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TRONG HOẠT ĐỘNG NHÂN ĐẠO

  1. Nguyên tắc: Hợp tác quốc tế trong hoạt động chữ thập đỏ được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, phù hợp với các quy định của Pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về hoạt động Chữ thập đỏ
  2. Nhiệm vụ

- Thực hiện đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng và Nhà nước.

- Giúp cho các thành viên thuộc Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ  quốc tế, các cá nhân, tổ chức quốc tế và bạn bè quốc tế hiểu rõ sứ mệnh và hoạt động nhân đạo của Hội, tạo sự đồng tình và ủng hộ cho sự nghiệp nhân đạo của Việt Nam, vận động ủng hộ nhân đạo quốc tế thông qua các chương trình, dự án và cứu trợ khẩn cấp.

-  Tham gia các hoạt động chung của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế  và thực hiện các Nghị quyết, chiến lược của Phong trào.

- Tham gia hoạt động cứu trợ quốc tế, ủng hộ nhân dân các nước bị thảm họa nghiêm trọng.

  1. Nội dung

- Xây dựng và thực hiện các dự án về hoạt động Chữ thập đỏ.

- Thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

- Trao đổi thông tin, kinh nghiệm về hoạt động Chữ thập đỏ.

- Huấn luyện, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho cán bộ Hội Chữ thập đỏ.

- Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về hoạt động Chữ thập đỏ.

  1. Đối tác

- Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế;

- Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế;

- Các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia;

- Các cơ quan ngoại giao các nước, các tổ chức thuộc Liên Hợp quốc, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức nước ngoài khác.

- Các cá nhân, đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, nhân đạo... và cộng đồng người Việt Nam  ở nước ngoài.

- Cán bộ, nhân viên là người Việt Nam làm việc tại các tổ chức quốc tế.

- Các cá nhân, đơn vị, các công ty, doanh nghiệp nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài tại Việt Nam và ở nước ngoài.

  1. Tổ chức thực hiện

5.1. Trung ương Hội

- Ban chấp hành Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam mà trực tiếp là Thường trực Trung ương Hội chỉ đạo, điều hành công tác đối ngoại của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

- Ban Đối ngoại và Phát  triển là cơ quan tham mưu của Trung ương Hội về quan hệ hợp tác quốc tế của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, có nhiệm vụ:

+ Tham mưu và đề xuất với Thường trực Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam về các chủ trương hợp tác quốc tế của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam;

+ Giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trươngvề hợp tác quốc tế của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, các chưong trình, dự án  ký với các đối tác quốc tế;

+ Hướng dẫn công tác đối ngoại trong toàn hệ thống Chữ thập đỏ;

+ Tham mưu phát triển các quan hệ đối ngoại với các đối tác trong Phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và ngoài Phong trào.

Các Ban, đơn vị trực thuộc Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam  có trách nhiệm hợp tác, phối hợp chặt chẽ với Ban Đối ngoại - Phát triển để tham mưu giúp Thường trực Trung ương Hội lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động đối ngoại của Hội.

5.2. Các cấp Hội

- Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ các tỉnh, thành phố chỉ đạo, điều hành công tác đối ngoại liên quan tại địa bàn, chịu trách nhiệm trước Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và cấp uỷ, chính quyền địa phương theo phân cấp quản lý.

- Các cấp Hội hợp tác, phối hợp chặt chẽ với Ban Đối ngoại và Phát triển Trung ương Hội, thường xuyên duy trì chế độ thông tin, báo cáo các họat động đối ngoại với Trung ương Hội.

 

[1] Năm 1862, cuốn "Hồi ký Sô-fe-rin-nô" của Hen-ry Du-năng một công dân Thuỵ Sỹ được phát hành mô tả sự thật kinh hoàng và tính chất vô cùng khốc liệt của trận chiến giữa liên quân Pháp - Ý với quân Áo tại thị trấn Sô-fe-rin-nô, phía Bắc nước Ý mà hậu quả của nó là hơn 40 ngàn người bị chết và bị thương. Tận mắt chứng kiến thảm cảnh ấy, Hen-ry Du-năng đã vận động người dân ở khu vực trận chiến tiến hành thu nhặt và chôn các xác chết, cứu chữa những người còn sống sót và tìm mọi cách đảm bảo an toàn cho họ, dù họ thuộc binh sỹ của phía nào. Cuốn sách có tiếng vang lớn và theo sáng kiến của Hen-ry Du-năng, một uỷ ban 5 người được thành lập với tên gọi "Uỷ ban quốc tế cứu trợ người bị thương". Tháng 10 năm 1863, Uỷ ban triệu tập Hội nghị quốc tế tại Giơ-ne-vơ với sự tham gia của đại biểu 16 nước. hội nghị đưa ra 4 kết luận: thành lập tổ chức cứu trợ tại mỗi nước; phối hợp với nhau trong hoạt động cứu trợ; thực hiện trung lập không phân biệt đối xử khi cứu trợ và lấy biểu tượng Chữ thập đỏ trên nền trắng làm biểu tượng của tổ chức (ngược với màu cờ của Thuỵ Sỹ để ghi nhớ Hen-ry Du-năng, người sáng lập Phong trào). , từ đó Chữ thập đỏ ra đời với cơ quan tiền thân là Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế.

[2] Sự kiện này bắt đầu từ cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871). Lúc đó, Uỷ ban đã thuyết phục được cả hai bên tham chiến cung cấp danh sách thương binh và tù binh đối phương.

Chia sẻ