LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ

Thế nào là Luật Nhân đạo Quốc tế?

Luật Nhân đạo Quốc tế là một phần chủ yếu của Công pháp quốc tế và bao gồm những quy tắc mà trong thời chiến, đều nhằm bảo vệ những người ngoài vòng chiến đấu hoặc đã bị loại khỏi cuộc xung đột, đồng thời nhằm hạn chế những phương pháp và phương tiện sử dụng trong chiến tranh.

Nói một cách chính xác hơn, đối với Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (UBCTĐQT), Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng đối với các cuộc xung độ vũ trang có ý nghĩa như một Hiệp ước quốc tế hoặc những điều luật tập quán nhằm giải quyết các vấn đề nhân đạo trực tiếp nảy sinh từ các cuộc xung đột vũ trang dù có mang tính chất quốc tế hay không. Ví những lý do nhân đạo, các quy tắc của Luật Nhân đạo sẽ hạn chế quyền tự do sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh của các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ người và tài sản bị ảnh hưởng hoặc có thể bị ảnh hưởng do cuộc xung đột.

Cụm từ "Luật Nhân đạo Quốc tế", "Luật Xung đột vũ trang", "Luật Chiến tranh" có thể được coi là có ý nghĩa tương đương. Các tổ chức quốc tế, các trường đại học, thậm chí các quốc gia thường chuộng dùng cụm từ Luật Nhân đạo Quốc tế (hoặc Luật Nhân đạo), trong khi các lực lượng vũ trang thích dùng hai cụm từ sau.

Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế: là xung đột giữa lực lượng quân đội của ít nhất là hai quốc gia (Chiến tranh giải phóng dân tộc được xếp vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế).

Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế: là xung đột xảy ra trong phạm vi một quốc gia, giữa một bên là quân đội chính quy với bên kia là những phe nhóm xác định và có trang bị vũ trang, hoặc xung đột giữa các phe nhóm có trang bị vũ trang với nhau.

Xáo trộn nội bộ: là trong một nước xảy ra những rối loạn nghiêm trọng về trật tự xã hội, gây nên bởi các hành vi bạo lực không mang tính chất của xung đột vũ trang (ví dụ: bạo loạn, xung đột giữa các phe phái hoặc hành vi bạo lực chống đối chính quyền…)

Những quy tắc chủ yếu của Luật Nhân đạo Quốc tế là gì?

Là những quy phạm luật chủ yếu mà UBCTĐQT đã tóm tắt từ những nét chính của Luật Nhân đạo Quốc tế. Do vậy không có hiệu lực của một văn bản pháp lý và cũng không được đem thay thế các văn bản pháp lý khác đang có hiệu lực, chỉ nhằm tạo điều kiện cho việc phổ biến Luật Nhân đạo quốc tế mà thôi.

Nội dung của các quy tắc:

  • Những người nằm ngoài và những người bị loại khỏi vòng chiến phải được tôn trọng về sinh mạng, được đảm bảo toàn vẹn về thân thể và tinh thần. Trong mọi trường hợp, các đối tượng trên phải được bảo hộ và đối xử nhân đạo không có bất kỳ sự phân biệt nào.

  • Nghiêm cấm việc giết hoặc làm bị thương đối phương khi họ đã quy hàng hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

  • Người bị thương hoặc bị ốm phải được thu gom lại và chăm sóc bởi bên đối phương đang cầm giữ họ. Các nhân viên y tế, các trạm và phương tiện vận chuyển và trang thiết bị y tế phải được tôn trọng và bảo vệ. Biểu tượng CTĐ và TLLĐ trên nền trắng là dấu hiệu bảo hộ những người và vật dụng nói trên nên phải được tôn trọng.

  • Tù binh và dân thường bị phía đối phương bắt giữ phải được tôn trọng về sinh mạng, phẩm giá, các quyền tự do và tư tưởng cá nhân, chính trị, tín ngưỡng và tập tục tôn giáo. Cấm sử dụng các hành động bạo lực hoặc trả đũa đối với họ. Họ được bảo đảm quyền liên lạc với gia đình và tiếp nhận sự cứu trợ.

  • Mỗi người đều có quyền hưởng các bảo đảm luật pháp chủ yếu. Không ai phải chịu trách nhiệm về những việc mà họ không vi phạm. Không được tra tấn về thể chất và tinh thần, dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo hoặc làm mất nhân phẩm đối với họ.

  • Các bên tham chiến và thành viên các lực lượng vũ trang phải tuân thủ việc hạn chế sử dụng các biện pháp và phương tiện chiến tranh gây ra những tác hại không cần thiết hoặc quá đau đớn.

  • Các bên tham chiến phải luôn luôn phân biệt rõ dân thường và tài sản của họ. Đại bộ phận nhân dân cũng như mỗi con người đều không thể bị coi là mục tiêu để tấn công. Chỉ được tấn công vào các mục tiêu quân sự.

Nguồn gốc của Luật Nhân đạo Quốc tế là gì?

Để giải đáp được câu hỏi này, chúng ta phải đặt ra một số câu hỏi khác!

Trước khi có Luật Nhân đạo ngày nay, có luật nào chi phối xung đột vũ trang hay không?

Thứ nhất, có các quy tắc bất thành văn hình thành trên cơ sở những tập quán chi phối các cuộc xung đột vũ trang. Sau đó, có nhiều hiệp ước song phương (trao trả tù binh) tuy được soạn thảo ở những mức độ chi tiết khác nhau nhưng có hiệu lực. Đôi khi các ban tham chiến lại phê chuẩn các hiệp ước khi chiến tranh đã kết thúc. Ngoài ra còn có các điều lệnh mà các nước đã ban hành cho binh lính của mình. Như vậy, luật áp dụng cho xung đột vũ trang được giới hạn cả về thời gian và không gian trong đó luật nói trên chỉ có giá trị đối với một trận chiến hoặc một trận xung đột. Các quy tắc cũng thay đổi tùy theo thời gian, địa điểm, đạo lý và nền văn minh.

Ai là những người khởi xướng Luật Nhân đạo ngày nay?

Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo là hai ông Hăng-ri Đuy-năng (Henry Dunant) và tướng Guy-lôm Hăng-ri Đuy-phua (Guillaume-Henri Dufour). Hăng-ri Đuy-năng đã khởi xướng ý tưởng đó trong cuốn sách "Kỷ niệm Son-phe-ri-nô" (Solferino) xuất bản năm 1862. Còn tướng Hăng-ri Đuy-phua, dựa trên kinh nghiệm chiến tranh dày dạn của mình đã nhiệt tình ủng hộ bằng việc ông đồng chủ tọa Hội nghị ngoại giao năm 1864.

Đuy-năng viết: "Trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như khi thủ lĩnh quân sự thuộc các quốc gia tụ họp (…), đây là dịp họ có thể lợi dụng hình thức hội nghị để xây dựng một số nguyên tắc quốc tế chuẩn y trong khuôn khổ một Công ước và không được phép vi phạm), những nguyên tắc này, một khi đã được các bên phê chuẩn, có thể sẽ hình thành cơ sở để các bên cứu trợ những người bị thương ở các quốc gia châu Âu".

Tướng Hăng-ri Đuy-phua viết (cho Hăng-ri Đuy-năng): "Qua những ví dụ sinh động như những ví dụ được minh họa trong bản báo cáo của ngài, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề: Có vinh quang nào trên chiến trường sinh ra do tra tấn và nước mắt".

Ý tưởng đã trở thành hiện thực như thế nào?

Chính phủ Thụy Sĩ, với sự thuyết phục của 5 thành viên sáng lập UBCTĐQT, đã triệu tập Hội nghị Ngoại giao năm 1864 với sự tham dự của 16 nước; Hội nghị đã thông qua Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện tình trạng thương binh trên chiến trường.

Công ước có những điểm nào mới?

Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864 đã đặt nền móng cho Luật Nhân đạo ngày nay và có những đặc trưng chủ yếu sau:

  • Là những quy tắc thành văn và hiện hành, có tầm chi phối toàn cầu nhằm bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột.

  • Mang tính chất đa phương, để ngỏ cho mọi quốc gia tham gia.

  • Quy định nghĩa vụ chăm sóc thương bệnh binh mà không phân biệt đối xử.

  • Tôn trọng các nhân viên, các phương tiện vận chuyển và thiết bị y tế có mang biểu tượng (Chữ thập đỏ trên nền trắng)

Luật Nhân đạo Quốc tế được hình thành trên cơ sở những hiệp định nào?

Khởi đầu từ Công ước Giơ-ne-vơ lần thứ nhất năm 1864, Luật Nhân đạo ngày nay đã phát triển qua nhiều thời kỳ, mà tất cả thường là sau những biến cố mà hết sức cần thiết phải có luật để đáp ứng các nhu cầu cao chưa từng có về cứu trợ nhân đạo cho nạn nhân của sự phát triển các loại vũ khí và các kiểu xung đột mới. Dưới đây là những Hiệp định cơ bản được liệt kê theo trình tự thời gian thông qua:

  • 1864 Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện điều kiện các thương binh trên chiến trường

  • 1868 Tuyên bố Xanh Pê-téc-bua (cấm sử dụng một số loại vũ khí tên lửa trong chiến tranh).

  • 1899 Công ước La-hay tôn trọng các đạo luật và những tập quán liên quan đến chiến tranh và vận dụng những nguyên tắc của Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864 cho chiến tranh trên biển.

  • 1906 Kiểm điểm và phát triển Công ước Giơ-ne-vơ 1864

  • 1907 Kiểm điểm lại và phát triển Công ước La-hay năm 1899 và thông qua các Công ước mới.

  • 1925 Nghị định thư Giơ-ne-vơ về việc cấm sử dụng chất gây ngạt, chất độc hoặc các loại khí độc hại hoặc sử dụng vũ khí vi trùng trong chiến tranh.

  • 1929 Hai Công ước Giơ-ne-vơ:

    • Kiểm điểm và phát triển các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1906

    • Công ước Giơ-ne-vơ liên quan tới việc đối xử với tù binh chiến tranh (mới)

    • 1949 Bốn Công ước Giơ-ne-vơ:

    • I Cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ

    • II Cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và những người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển

    • III Đối xử với tù binh chiến tranh

    • IV Bảo vệ thường dân trong thời gian chiến tranh (mới)

    • 1954 Công ước La-hay bảo vệ các tài sản văn hóa khi xảy ra xung đột vũ trang.

    • 1972 Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ các loại vũ khí vi trùng (sinh học) và vũ khí độc hại cũng như về sự hủy diệt của các loại vũ khí đó.

    • 1977 Hai nghị định thư bổ sung cho bốn Công ước Giơ-ne-vơ. Hai Nghị định thư này củng cố việc bảo hộ các nạn nhân của xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế (Nghị định thư 1) và trong xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế (Nghị định thư II).

    • 1980 Công ước về cấm hoặc hạn chế việc sử dụng một số loại vũ khí công ước – là những loại vũ khí có thể gây nên số thương vong quá mức hoặc có thể gây ra những hậu quả không lường hết được bao gồm:

    • Nghị định thư I về những mảnh vỡ không phát hiện được.

    • Nghị định thư II về cấm hoặc hạn chế sử dụng mìn, bẫy chông hoặc các loại vũ khí khác.

    • Nghị định thư III về việc cấm hoặc hạn chế sử dụng những vũ khí gây cháy.

  • 1993 Công ước về cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ và sử dụng các loại vũ khí hóa học và về sự hủy diệt của chúng.

  • 1995 Nghị định thư liên quan tới các loại vũ khí la-de gây mù mắt (Nghị định thư IV mới đối với Công ước 1980)

  • 1996 Nghị định thư về cấm hoặc hạn chế sử dụng mìn, bẫy chông và các loại vũ khí khác (Nghị định thư II được sửa đổi đối với Công ước năm 1980).

  • 1997 Công ước về cấm sử dụng, tàng trữ, sản xuất và chuyển giao các loại mìn sát thương cá nhân và về sự hủy diệt của chúng.

  • Nguồn gốc của các Công ước năm 1949

    Năm 1874, một Hội nghị ngoại giao đã được triệu tập tại Brúc-xen theo sáng kiến của Sa hoàng A-léc-xăng-đơ Đệ nhị. Hội nghị đã thông qua bản Tuyên ngôn quốc tế về các đạo luật và tập quán về chiến tranh. Tuy nhiên văn kiện đó không được phê chuẩn vì một số quốc gia ngần ngại chưa muốn chịu sự ràng buộc của đạo luật. Mặc dầu vậy, dự thảo Brúc-xen đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc pháp điển hóa các đạo luật về chiến tranh.

    Năm 1934, Hội nghị quốc tế CTĐ lần thứ 15 đã họp tại Tô-ky-ô và thông qua văn kiện "Công ước Quốc tế về những điều kiện và việc bảo hộ thường dân mang quốc tịch của quốc gia đối địch đang sinh sống trên lãnh thổ thuộc/hoặc bị chiếm đóng bởi quốc gia đối địch" do UBCTĐQT dự thảo. Văn kiện cũng không nhận được sự ủng hộ tích cực, các chính phủ vẫn từ chối việc triệu tập một Hội nghị ngoại giao để quyết định thông qua. Kết quả là, Dự thảo Tô-ky-ô đã không được áp dụng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai nên đã không ngăn chặn được hậu quả tàn khốc của chiến tranh mà tất cả chúng ta đều đã biết.

    Nguồn gốc các Nghị định thư năm 1977

    Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo. Tuy nhiên, sau quá trình phi thực dân hóa, các quốc gia mới thành lập thấy khó có thể chấp nhận việc bị ràng bược bởi những đạo luật mà bản thân họ không được tham gia chuẩn bị. Hơn thế nữa, những quy tắc ứng xử khi xảy ra xung đột cũng không tiến triển kể từ Công ước La-hay năm 1907. Tuy nhiên, do việc sửa đổi các Công ước Giơ-ne-vơ có thể tạo nên những thách thức cho một số sự tiến bộ đạt được năm 1949 nên đã dẫn tới quyết định thông qua hai văn kiện mới dưới hình thức Nghị định thư bổ sung cho các Công ước Giơ-ne-vơ nhằm củng cố việc bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang.

    Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 và hai Nghị định thư bổ sung năm 1977 bao gồm khoảng 600 điều khoản và là những văn kiện chủ yếu của Luật Nhân đạo Quốc tế.

    Công ước 1
     

    Công ước 2
     

    Công ước 3
     

    Công ước 4
     

    Những chủ thể nào chịu sự ràng buộc của các Công ước Giơ-ne-vơ?

    Chỉ các quốc gia mới có thể tham gia các Hiệp ước quốc tế, do đó, chỉ các quốc gia mới được tham gia ký kết các Công ước Giơ-ne-vơ và các Nghị định thư bổ sung.

    Tính đến giữa năm 2003, hầu hết các quốc gia trên thế giới, chính xác là 191 nước đã ký kết các Công ước Giơ-ne-vơ. Như vậy, các Công ước này đã thuộc số các Công ước có số nước phê chuẩn đông nhất và được công nhận mang tính chất quốc tế. Đối với hai Nghị định thư bổ sung, tính đến đầu năm 1998, thì có 150 nước tham gia Nghị định thư I và 142 nước tham gia Nghị định thư II.

    Ai có nghĩa vụ phổ biến kiến thức về các Công ước và Nghị định thư?

    Các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý phổ biến rộng rãi kiến thức về các Công ước và Nghị định thư:

    Các bên tham gia Công ước cam kết phổ biến nội dung các Công ướ này càng rộng rãi càng tốt trong đất nước của mình cả trong thời bình và thời chiến và trong chừng mực có thể, nên đưa nội dung Công ước vào các chương trình huấn luyện quân sự và đưa vào các chương trình giáo dục dân sự, làm sao cho những nguyên tắc của Công ước được thông suốt trong toàn thể nhân dân, đặc biệt là trong các lực lượng vũ trang chiến đấu, trong các nhân viên y tế và trong các giáo sĩ. (Điều 47, 48, 127 và 144 của các Công ước Giơ-ne-vơ I, II, III và IV theo thứ tự).

    Các bên tham gia Nghị định thư cam kết phổ biến nội dung các Công ước và Nghị định thư này trong đất nước của mình càng rộng rãi càng tốt cả trong thời bình cũng như trong thời chiến, đặc biệt là đưa nội dung Công ước và Nghị định thư này vào các chương trình huấn luyện quân sự và khuyến khích người dân hiểu biết về các Công ước và Nghị định thư, làm sao để nội dung của các Công ước và Nghị định thư đó được các lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân thông suốt. (Điều 83, Nghị định thư I).

    "Nghị định thư này cần được phổ biến càng rộng rãi càng tốt". (Điều 19, Nghị định thư II).

    UBCTĐQT và nhiệm vụ phổ biến rộng rãi Luật Nhân đạo

    Theo Điều lệ của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế, một trong các nhiệm vụ của UBCTĐQT là:

    (…) hoạt động sao cho sự hiểu biết và sự phổ biến kiến thức về Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng vào các cuộc xung đột vũ trang và chuẩn bị bất cứ sự phát triển nào nảy sinh từ các cuộc xung đột đó. (Điều 5, đoạn 2g).

    (…) Duy trì quan hệ chặt chẽ với các Hội quốc gia (…) về những vấn đề các bên cùng quan tâm, ví dụ: phối hợp chuẩn bị hành động khi xảy ra xung đột vũ trang; tôn trọng, phát triển và phê chuẩn các Công ước Giơ-ne-vơ; và phổ biến những nguyên tắc chủ yếu của các Công ước Giơ-ne-vơ cũng như của Luật Nhân đạo Quốc tế. (Điều 5, đoạn 4a).

    Thế nào là luật hạn chế sử dụng vũ lực (Jus ad bellum) và Luật thời chiến (Jus in bello)?

    Mục đích của Luật Nhân đạo Quốc tế là hạn chế những đau khổ do chiến tranh gây ra thông qua việc bảo hộ và giúp đỡ các nạn nhân theo khả năng cao nhất của mình. Bởi vậy, luật nêu lên thực trạng của xung đột mà không quan tâm tới lý do hoặc tính chất pháp lý của việc sử dụng vũ lực. Luật chỉ quy định các yếu tố liên quan đến vấn đề nhân đạo trong cuộc xung đột. Đó chính là luật thời chiến (Jus in bello). Các điều khoản của đạo luật này được áp dụng cho các bên tham chiến mà không quan tâm tới lý do của cuộc xung đột cũng như nguyên nhân đúng/sai của bất cứ bên nào.

    Trong những cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế, thường rất khó xác định quốc gia nào vi phạm Hiến chương của Liên Hợp Quốc. Việc áp dụng Luật Nhân đạo Quốc tế không bao gồm sự lên án bên nào phạm tội vì điều đó dễ làm nổ ra tranh luận dẫn tới việc làm tê liệt việc thực thi đạo luật này, vì bên nào cũng tự nhận mình là nạn nhân của sự xâm lược. Hơn thế nữa, Luật Nhân đạo vốn chỉ nhằm bảo vệ nạn nhân chiến tranh và những quyền cơ bản của họ, mà không phân biệt họ thuộc bên tham chiến nào. Điều đó giải thích tại sao luật thời chiến (jus in bello) lại độc lập với luật về sử dụng vũ lực hay còn gọi là luật phòng ngừa trong chiến tranh (tiếng La tinh là: jus ad bellum hay jus contra bellum).

    Về ngăn ngừa chiến tranh:

    Mãi tới khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, việc sử dụng vũ lực vẫn được coi là hành động bất hợp pháp nhưng được thừa nhận để giải quyết những bất đồng.

    Điều lệ của Hội Quốc liên năm 1919 và Hiệp định Pa-ri (Hiệp ước Briand-Kellogg) năm 1928 đều nhằm ngăn ngừa chiến tranh. Việc thông qua Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945 đã khẳng định khuynh hướng: "Trong mối bang giao quốc tế, không cho phép các thành viên của Liên Hợp Quốc sử dụng những biện pháp đe dọa hoặc sử dụng vũ lực (…)".

    Tuy nhiên, khi một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia bị một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia khác tấn công thì Hiến chương cho phép được sử dụng quyền phản ứng tự vệ cá nhân hoặc tập thể. Theo quy định tại Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hội đồng Bảo an cũng có thể quyết định việc sử dụng vũ lực tập thể. Điều này bao gồm:

    • Sử dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các quốc gia đang đe dọa an ninh quốc tế nhằm mục đích khôi phục nền hòa bình.

    • Sử dụng các biện pháp gìn giữ hòa bình thông qua các hình thức: cử quan sát viên hay các lực lượng gìn giữ hòa bình.

    Một trường hợp khác được nêu trong khuôn khổ quyền tự quyết của các dân tộc; trong nghị quyết số 2105 (khóa XX) thông qua năm 1965, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã "công nhận tính chất chính đáng của cuộc đấu tranh chống ách đô hộ thực dân đòi thực hiện quyền tự quyết và độc lập của các dân tộc (…)".

    Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng trong những hoàn cảnh nào?

    Luật dành cho những đối tượng nào và nhằm bảo vệ ai?

    Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp. Nói như vậy có nghĩa là luật áp dụng hai hình thức bảo vệ sau đây:

    A, Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế:

    Khi xảy ra xung đột vũ trang có tính chất quốc tế, bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung I sẽ được áp dụng.

    Luật Nhân đạo nhằm chủ yếu vào các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người nằm ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, ví dụ:

    • Binh sĩ bị ốm hoặc bị thương trên chiến trường; và các nhân viên y tế phục vụ trong các lực lượng vũ trang.

    • Binh sĩ bị ốm, bị thương hoặc bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân; và các nhân viên y tế phục vụ trong ác lực lượng hải quân.

    • Tù binh chiến tranh

    • Dân thường, ví dụ:

        • Người nước ngoài sống trên lãnh thổ các bên tham gia xung đột, kể cả người tỵ nạn.

        • Thường dân sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng.

        • Thường dân bị bắt giữ hoặc bị cầm tù.

        • Các nhân viên y tế, tôn giáo hoặc phòng hộ dân sự.

    Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, như quy định tại điều 1 của Nghị định thư bổ sung I, được liệt vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế.

    B, Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế:

    Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế sẽ áp dụng điều 3 chung của bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung II.

    Cần lưu ý rằng những điều kiện áp dụng của Nghị định thư II chặt chẽ hơn nhiều so với những điều kiện quy định ở điều 3. Trong tình hình đó, Luật Nhân đạo nhằm vào các lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu mà không phân biệt chính quy hay không chính quy, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người đứng ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, ví dụ:

      • Thương binh hoặc bệnh binh

      • Những người bị tước quyền tự do hậu quả của cuộc xung đột.

      • Dân thường

      • Các nhân viên y tế và tôn giáo.

    Luật Nhân đạo với vấn đề xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế

    Điều 3 chung cho cả 4 Công ước được xem như một Hiệp ước thu nhỏ. Những đạo luật về nội chiến, mặc dù đã được đề cập trong một số điều khoản của Nghị định thư II, vẫn không đầy đủ như những quy tắc đối với xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế. Đứng trước nguyên tắc chủ quyền của quốc gia, thường rất khó củng cố hệ thống bảo vệ trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế.

    Những quy tắc nêu trong Điều 3 được xem như là luật tập quán và biểu thị mức tiêu chuẩn tối thiểu mà các bên tham chiến phải tôn trọng.

    Luật nào được áp dụng trong trường hợp xảy ra nội chiến hoặc bạo động trong phạm vi một nước?

    Luật Nhân đạo Quốc tế không áp dụng vào bối cảnh tình hình mà ở đó bạo lực không biến thành xung đột vũ trang. Những trường hợp như vậy sẽ được hướng dẫn bằng các điều khoản của luật về quyền con người cũng như viện dẫn luật pháp của quốc gia.

    Luật Nhân đạo có áp dụng đối với những cuộc xung đột "mới" không?

    Ngày nay người ta nói rất nhiều về những cuộc xung đột "mới. Thuật ngữ này nhằm miêu tả hai dạng xung đột: xung đột kiểu "tự phát" và xung đột "sắc tộc". Các thuật ngữ này chỉ có ý nghĩa tương đối.

    Xung đột tự phát: hậu quả tất yếu nảy sinh từ sâu Chiến tranh lạnh. Dạng xung đột này thường biểu hiện bằng sự suy yếu từng phần hoặc đôi khi tan rã hoàn toàn cơ cấu nhà nước. Trong bối cảnh đó, một số phe nhóm có vũ trang đã lợi dụng khoảng trống chính trị hòng cướp chính quyền. Tuy nhiên, dạng xung đột này, trước hết, thường gây nên sự suy yếu hoặc tan rã của hệ thống chỉ huy chính ngay trong nội bộ các phe nhóm có vũ trang đó.

    Xung đột sắc tộc: là kiểu xung đột nhằm loại bỏ kẻ thù bằng thủ đoạn gọi là "huỷ diệt dân tộc". Đặc tính của thủ đoạn này là nhằm cưỡng chế di cư hoặc thậm chí tàn sát hủy diệt dân chúng. Chịu ảnh hưởng của những cuộc tuyên truyền dồn dập, của bạo lực và của sự hận thù, kiểu xung đột này thường tạo nên một động lực kích động tinh thần của phe nhóm gây bất lợi cho bản sắc dân tộc hiện hành, qua đó loại trừ hẳn khả năng cùng chung sống hòa bình với những phe nhóm khác.

    Luật Nhân đạo Quốc tế hiện vẫn áp dụng đối với xung đột kiểu "tự phát" và "xung đột sắc tộc", bởi vì các cuộc xung đột đó đã lôi cuốn dân thường vào các hoạt động bạo lực. Điều 3 chung yêu cầu tất cả các phe nhóm có trang bị vũ trang, dù họ có tham gia hoạt động nổi loạn hay không phải tôn trọng những người đã buông vũ khí và những người đứng ngoài vòng chiến.

    Kết cục là không phải vì cơ cấu của một quốc gia bị suy yếu hoặc không tồn tại tạo ra khoảng trống pháp lý đối với luật pháp quốc tế. Trái lại, rõ ràng là trong những bối cảnh tình hình như trên mà Luật Nhân đạo đã trở thành có hiệu lực.

    Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng: rất khó áp dụng Luật Nhân đạo đối với những kiểu xung đột nêu trên. Việc thiếu tính kỷ luật giữa những bên tham chiến, việc trang bị vũ khí cho thường dân tràn lan khắp lãnh thổ và việc ngày càng thiếu sự phân biệt rõ ràng giữa lính chiến và dân thường v.v... vẫn gây nên những cuộc đụng độ dẫn tới hậu quả tàn khốc mà hầu như ở đó khó có cơ hội để vận dụng Luật Nhân đạo.

    Kết quả là trong những bối cảnh tình hình đã nêu trên, cần phát huy mọi nỗ lực để phổ biến Luật Nhân đạo thật rộng rãi. Dẫu rằng, kiến thức tốt hơn về các quy tắc chiến tranh có thể chưa giải quyết được những vấn đề nổi cộm là nguyên nhân làm nảy sinh xung đột nhưng nó có khả năng làm giảm bớt hậu quả thảm khốc do các cuộc xung đột gây ra.

    Điều 3 chung: Một Hiệp định thu nhỏ.

    Trong trường hợp xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế xảy ra trên lãnh thổ của một bên ký kết thì mỗi bên tham gia xung đột phải chịu sự ràng buộc pháp lý tối thiểu của những điều khoản dưới đây:

    1, Những người nằm ngoài vòng chiến, bao gồm cả những người đã hạ vũ khí và những người đã bị loại ra khỏi vòng chiến do bị ốm, bị thương, bị giam giữ hoặc do bất kỳ nguyên nhân nào khác thì trong mọi trường hợp sẽ được đối xử nhân đạo mà không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, tôn giáo hay tín ngưỡng, giới tính, quốc tịch, giàu nghèo hoặc bất cứ một tiêu chuẩn nào khác.

    Để đạt được mục đích này, các hành vi dưới đây đối với những đối tượng kể trên bị nghiêm cấm bất cứ lúc nào và ở đâu:

    1. Xâm phạm đến tính mạng và thân thể, đặc biệt là giết hại bằng mọi hình thức, làm cho bị tàn phế, đối xử thô bạo, tra tấn và dùng nhục hình.
    2. Bắt làm con tin.
    3. Xúc phạm đến nhân phẩm, nhất là hình thức đối xử hạ nhục làm mất phẩm giá của con người.
    4. Tuyên án và hành quyết mà không có sự xét xử của một tòa án được thành lập theo thông lệ nhằm bảo đảm tính chất xét xử pháp lý thiết yếu mà loài người văn minh đã công nhận.

    2, Những người bị thương và bị bệnh cần phải được thu gom và chăm sóc.

    Một cơ quan nhân đạo và vô tư, chẳng hạn như UBCTĐQT, có thể tự đề nghị được giúp đỡ các bên trong cuộc xung đột.

    Các bên xung đột, qua những cách thức thỏa thuận đặc biệt, cần tỏ ra cố gắng hơn để thực hiện toàn bộ hay một số điều khoản của Công ước này.

    Việc áp dụng những điều khoản trên đây sẽ không gây ảnh hưởng gì đến tính chất pháp lý của các bên trong cuộc xung đột.

    Quá trình hình thành Luật Nhân đạo ra sao? Và Luật có những phát triển gì mới nhất?

    Được coi là khởi xướng Luật Nhân đạo ngày nay (ví dụ: Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864), UBCTĐQT cố gắng đảm bảo giá trị pháp lý của ngành Công pháp quốc tế này. Do đó, UBCTĐQT đóng vai trò:

    • Giám sát sự thay đổi của tính chất các cuộc xung đột vũ trang.
    • Tổ chức các cuộc tư vấn để xác định khả năng đạt được thỏa thuận về những quy tắc mới.
    • Chuẩn bị dự thảo các văn kiện để trình lên các Hội nghị ngoại giao.

    Sự kiện về hai Nghị định thư bổ sung đã đưa đến ý tưởng về sự hình thành của Luật Nhân đạo: từ lúc sơ thảo đến lúc được thông qua:

    • Trên cơ sở dự thảo những quy tắc được chuẩn bị từ năm 1956 và sau là những nghị quyết được Hội nghị Chữ thập đỏ quốc tế và Hội nghị nhân quyền quốc tế họp tại Tê-hê-ran thông qua năm 1958, UBCTĐQT nghiên cứu khả năng bổ sung các Công ước Giơ-ne-vơ thông qua năm 1949.
    • Năm 1969, UBCTĐQT trình ý tưởng nói trên lên Hội nghị Chữ thập đỏ lần thứ 21 họp tại It-stăng-bun: đại biểu các nước thành viên các Công ước Giơ-ne-vơ đã ủy thác ý tưởng đó một cách phù hợp cho UBCTĐQT và các luật gia của UBCTĐQT lập tức bắt tay vào công việc trù bị.
    • Vào giữa năm 1971 và 1974, UBCTĐQT đã tổ chức nhiều cuộc tư vấn với các chính phủ và Phong trào, đồng thời thường xuyên gửi báo cáo tiến độ thực hiện tới Liên Hợp quốc.
    • Năm 1973, Hội nghị Chữ thập đỏ quốc tế lần thứ 22 đã họp tại Tê-hê-ran. Hội nghị đã xem xét văn kiện các dự thảo trên và bày tỏ ý kiến ủng hộ hoàn toàn.
    • Tháng 2/1974, chính phủ Thụy Sĩ, với tư cách là nước nộp lưu chiểu các Công ước Giơ-ne-vơ 1949, đã triệu tập tại Giơ-ne-vơ Hội nghị ngoại giao về việc khẳng định và phát triển Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang. Hội nghị đã họp bốn phiên và kết thúc vào 6/1977.
    • Tại phiên họp toàn thể cuối cùng của Hội nghị, 102 đại biểu đại diện cho các quốc gia tham dự đã thông qua 102 điều của Nghị định thư I và 28 điều của Nghị định thư II.

    Một số phát triển gần đây nhất

    Được thông qua tại Hội nghị ngoại giao họp tại Viên tháng 10/1995, Nghị định thư liên quan tới những vũ khí la-de gây mù mắt đã cấm việc sử dụng và chuyển giao các loại vũ khí la-de vì chúng có tính năng gây mù mắt vĩnh viễn nếu sử dụng vào cuộc chiến. Nghị định thư cũng yêu cầu các quốc gia áp dụng những biện pháp phòng ngừa thích hợp, kể cả việc huấn luyện trong các lực lượng vũ trang, nhằm tránh gây mù mắt vĩnh viễn do sử dụng bừa bãi các hệ thống la-de khác.

    Đối với trường hợp mìn, thông qua việc bổ sung văn kiện Nghị định thư về cấm và hạn chế sử dụng mìn, bẫy chông và các loại vũ khí khác, phạm vi áp dụng của Nghị định thư II đối với Công ước năm 1980 (xem trang 11) đã được mở rộng và sửa đổi tại Giơ-ne-vơ vào 3/1976. Hơn thế nữa, Công ước về cấm sử dụng, tàng trữ, sản xuất và chuyển giao mìn sát thương cá nhân và về sự hủy diệt của mìn đã được 121 nước ký tại Ôt-ta-wa (3-4/12/1997).

    Những thỏa thuận của Luật Nhân đạo Quốc tế về các quy tắc áp dụng cho vấn đề bảo vệ môi trường được ghi trong điều 55 của Nghị định thư bổ sung I và trong Công ước ngày 10/12/1976 về cấm tiến hành các hoạt động quân sự và hoạt động thù địch làm biến đổi môi trường sinh thái.

    Tuy nhiên, chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 đã cho thấy: các quy tắc trên chỉ được ít người biết tới và đôi khi có biết thì cũng thiếu chính xác. Vì vậy nên năm 1994, với sự khích lệ của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc và với sự trợ giúp của các chuyên gia về các lĩnh vực trên, UBCTĐQT đã dự thảo cuốn Sổ tay hướng dẫn quân sự và hướng dẫn việc bảo vệ môi trường khi xảy ra xung đột vũ trang.

    Một sự phát triển mới khác gần đây nhất là cuốn sở tay San Rê-mô (San Remo) về vấn đề áp dụng luật quốc tế đối với các cuộc xung đột vũ trang trên biển. Cuốn sách này - được Viện quốc tế về Luật Nhân đạo thực hiện với sự hỗ trợ của UBCTĐQT, có một vai trò quan trọng vì đã được các chính phủ công nhận bằng một nghị quyết được thông qua tại Hội nghị Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế lần thứ 26 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1995.

    Mặc dầu các Công ước Giơ-ne-vơ và các Nghị định thư bổ sung không nói rõ việc cấm sử dụng vũ khí nguyên tử, song những nguyên tắc chung của Luật Nhân đạo Quốc tế đã đựoc áp dụng vào các trường hợp như vậy. Chẳng hạn trong số các nguyên tắc của luật có nguyên tắc: trong mọi hoàn cảnh, các bên tham chiến phải phân biệt giữa binh lính và dân thường, đồng thời cấm sử dụng những loại vũ khí có thể gây nên những đau đớn không cần thiết. Việc áp dụng những nguyên tắc này đối với các vũ khí nguyên tử đã được Tòa án quốc tế La-hay tái khẳng định vào năm 1996.

    Luật Nhân đạo có thể cung cấp cơ sở vật chất gì cho các nạn nhân của xung đột vũ trang?

    Các quốc gia thành viên Công ước Giơ-ne-vơ đều chấp nhận việc các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang có quyền được nhận những đồ dùng thiết yếu cho cuộc sống của mình. Quyền này đã được phát triển thêm với việc thông qua hai Nghị định thư bổ sung năm 1977.

    Khi xảy ra xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế, quyền nhận cứu trợ bao gồm:

    • Không được giữ lại những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống của thường dân (điều 23 của Công ước thứ tư, dự thảo đề phòng những trường hợp bị cấm vận).
    • Nước chiếm đóng có nhiệm vụ đảm bảo cung cấp mọi thứ cần thiết cho nhân dân trên lãnh thổ bị chiếm đóng (điều 55 của Công ước thứ tư). Trong trường hợp không thể đáp ứng nổi các nhu cầu, nước chiếm đóng phải cho phép nhận tiếp tế từ các nguồn bên ngoài (điều 59 của Công ước thứ tư).

    Nghị định thư I (Điều 69 và 70) củng cố thêm các quy tắc đã được thông qua năm 1945. Ví dụ: một quốc gia đang có chiến tranh phải chấp nhận kế hoạch cứu trợ mang tính nhân đạo và vô tư, kế hoạch đó được tiến hành không có sự phân biệt đối xử và được sự thỏa thuận của tất cả các bên liên quan. Trong trường hợp thỏa mãn các điều kiện như: không can thiệp vào cuộc xung đột vũ trang cũng không tham gia vào các hoạt động thù địch v.v… mà bên tham gia xung đột vẫn từ chối sự tiếp nhận cứu trợ thì đó là hành động sai lầm.

    Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế, Nghị định thư II (Điều 18) nêu cụ thể: Nếu thường dân đang phải chịu khổ cực quá mức do thiếu nguồn cung cấp thiết yếu cho cuộc sống, các hoạt động cứu trợ mang tính chất nhân đạo và vô tư phải được các bên tham chiến chấp nhận và được tiến hành không phân biệt đối xử. Ngày nay, vấn đề một quốc gia phải cho phép tiến hành các hoạt động cứu trợ mang tính nhân đạo thuần túy đã trở nên phổ biến.

    Luật Nhân đạo và "quyền can thiệp vì lý do nhân đạo"

    Cho tới nay, "quyền hoặc nghĩa vụ can thiệp" bao hàm ý nghĩa của quyền can thiệp vũ trang được thực hiện vì lý do nhân đạo, vấn đề ở chỗ sự can thiệp đó không được thực hiện theo quy định của Luật Nhân đạo, mà theo những quy tắc có tính chất pháp lý về quyền sử dụng vũ lực trong mối bang giao quốc tế, ví dụ như luật về sử dụng các phương tiện chiến tranh trong thời chiến.

    Nếu xảy ra can thiệp vũ trang vì lý do nhân đạo thì UBCTĐQT trong phạm vi nhiệm vụ được ủy thác, phải đảm bảo sao cho các bên tham gia can thiệp tôn trọng các quy tắc liên quan của Luật Nhân đạo Quốc tế và phải nỗ lực giúp đỡ các nạn nhân trong cuộc xung đột.

    UBCTĐQT không phản đối và cũng không ủng hộ "quyền can thiệp". Theo kinh nghiệm riêng, UBCTĐQT cho rằng việc can thiệp như vậy thường mang tính chất chính trị nên nếu để bị lôi cuốn vào đó sẽ gây tổn hại cho công tác cứu trợ nhân đạo của mình.

    Luật Nhân đạo có những quy định gì đối với vấn đề khôi phục liên lạc với gia đình?

    Là hậu quả của xung đột vũ trang, tù binh chiến tranh và dân thường bị bắt giữ phải sống cách biệt với gia đình, vì vậy nên cảnh gia đình bị ly tán hoặc các thành viên bị lưu lạc. Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư I bao gồm nhiều điều khoản pháp lý bảo vệ các nạn nhân kể trên. Những điều khoản này được áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế và UBCTĐQT được ủy thác thực hiện các nhiệm vụ sau:

    1.Chuyển thông điệp và các loại thông tin khác đến gia đình, bao gồm:

    Nhận và đăng ký thẻ tù cho tù binh chiến tranh và tù thường phạm; nhân đôi số thẻ đó và gửi một thẻ cho gia đình người bị bắt.

    Chuyển thư của những người bị bắt về gia đình họ.

    Chuyển tin tức của gia đình (Nhắn tin chữ thập đỏ) tới những người bị bắt nếu hệ thống bưu điện thông thường bị gián đoạn hoặc bị cắt đứt.

    Nhận và chuyển thông tin về những người bị chết.

    Gần đây nhất, Trung tâm Tìm kiếm trung ương của UBCTĐQT hoạt động như một bên trung gian giữa các bên tham gia xung đột, hay nói một cách chính xác hơn là giữa các Văn phòng Thông tin liên lạc quốc gia để trung chuyển những thông tin về những đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của Luật Nhân đạo.

    2. Yêu cầu thông tin về những người bị mất tích (Điều 33 của Nghị định thư I)

    3. Đoàn tụ những gia đình bị ly tán. (Điều 74 của Nghị định thư I).

    Văn phòng thông tin quốc gia

    Công ước Giơ-ne-vơ thứ ba (điều 122) đã quy định: ngay khi cuộc xung đột nổ ra, bên trung lập hay bên tham chiến mà nhận tù binh vào lãnh thổ của mình đều phải lập một Phòng Thông tin chính thức về các tù binh mà họ đang nắm giữ. Mỗi bên trong cuộc xung đột phải cung cấp cho Phòng Thông tin của mình danh sách các tù nhân (kèm theo các chi tiết liên quan) bị các lực lượng vũ trang bắt giữ, vì thế, thân nhân người bị bắt sẽ được thông báo kịp thời. Nếu không có các văn phòng như vậy (chuyện thường xảy ra khi xung đột) thì UBCTĐQT sẽ tiến hành thu thập các thông tin về những đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của Công ước Giơ-ne-vơ.

    Trung tâm tìm kiếm

    "Một cơ quan Trung ương thông tin về tù binh chiến tranh sẽ được thành lập ở một nước trung lập. Nếu cần thiết thì UBCTĐQT có thể đề nghị với các nước hữu quan thành lập một cơ quan như thế. Cơ quan này có nhiệm vụ tập hợp mọi thông tin liên quan đến tù binh chiến tranh thu được qua các kênh chính thức hay kênh riêng và chuyển những thông tin đó đến nước nguyên quán của tù binh chiến tranh hay đến nước mà họ thuộc quyền trong thời hạn sớm nhất có thể (…)". (Điều 123 của Công ước Giơ-ne-vơ thứ ba).

    Gia đình ly tán

    "Mỗi bên trong cuộc xung đột cần phải tạo mọi điều kiện dễ dàng đối với các yêu cầu của thân nhân các gia đình bị ly tán trong chiến tranh nhằm mục đích giúp họ nối lại liên hệ gia đình và gặp gỡ nếu có thể (…)". (Điều 26, Công ước Giơ-ne-vơ thứ tư).

    Những điều khoản nào của Luật Nhân đạo hướng dẫn việc sử dụng biểu tượng?

    Các Công ước Giơ-ne-vơ nêu ra bao loại biểu tượng: Chữ thập đỏ, Lưỡi liềm đỏ, Sư tử và Mặt trời đỏ. Nhưng ngày nay chỉ sử dụng hai dạng biểu tượng đầu tiên, còn biểu tượng Sư tử và Mặt trời đỏ không được sử dụng nữa.

    Các Công ước và Nghị định thư bổ sung bao gồm nhiều điều khoản về biểu tượng. Một số điều khoản nêu cụ thể cách thức sử dụng, kích cỡ, mục đích và nơi đặt biểu tượng, đối tượng và tài sản được sử dụng biểu tượng, phải tôn trọng biểu tượng ra sao và biện pháp trừng phạt đối với sự lạm dụng biểu tượng thế nào.

    Khi xảy ra xung đột vũ trang, biểu tượng được sử dụng như tín hiệu bảo vệ chỉ trong các trường hợp sau:

    • Các đơn vị cứu thương của các lực lượng vũ trang;
    • Các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia được các chính phủ hoàn toàn công nhận và ủy nhiệm làm công tác y tế trong các lực lượng vũ trang. Các Hội quốc gia có thể sử dụng các biểu tượng như tín hiệu bảo vệ cho các nhân viên và trang thiết bị y tế khi chính thức tham gia phục vụ trong thời chiến, với điều kiện là các nhân viên và trang thiết bị đó có cùng nhiệm vụ và phải tuân thủ các quy tắc và điều lệnh quân sự;
    • Các bệnh viện dân sự và các trạm y tế khác được Chính phủ công nhận và cho phép sử dụng biểu tượng làm tín hiệu bảo vệ (ví dụ: các trạm sơ cấp cứu, xe cứu thương v.v…);
    • Các cơ quan cứu trợ tình nguyện khác: cũng được hưởng những điều kiện giống các Hội quốc gia: phải được chính phủ công nhận và cho phép có thể dùng biểu tượng cho các nhân viên và trang thiết bị dành phục vụ riêng công tác y tế và phải tuân thủ các quy tắc và các điều lệnh quân sự.

    Luật Nhân đạo quốc tế cũng chỉ rõ rằng mỗi bên tham gia các Công ư